Thư Viện Ngôn Tình » Người con gái thời gian » Người con gái thời gian | Chương 1.1

Người con gái thời gian | Chương 1.1

Chương 1: Ngài Bach kính mến

Người dịch: Cơm Nguội

Biên tập: Iris

Học đàn cello được tám năm, đến lúc nhận ra tôi yêu nó thì đã quá muộn.

“Handel[1] và Bach[2] đều là hai nhà soạn nhạc kiệt xuất cùng thời và thường được mang ra so sánh với nhau. Không bàn đến thành tựu âm nhạc thì Handel cởi mở hay nói, thích giao tiếp, quan hệ rộng khắp, còn Bach lại không thích xã giao, là một người vô cùng nghiêm túc. Ấy thế mà cả đời Handel lại không kết hôn, trong khi Bach có đến mấy đời vợ và sinh được tổng cộng hai mươi người con.”

Thời đại học, tôi từng học một môn gọi là Lịch sử Âm nhạc phương Tây; đó là đoạn tôi còn nhớ rõ nhất trong toàn bộ kiến thức thầy cô giảng.

Bach sinh đến hai mươi người con?!

Bạn bè học cùng môn tự chọn cũng từng hỏi, “Vấn đề này bạn cũng biết từ trước ư, bạn đã học cello được tám năm rồi mà nhỉ?”. Song, tôi chỉ hời hợt lắc đầu.

Đây là môn tôi chủ động chọn trong chương trình học, nhưng lại không tận tai nghe giảng, bởi tiết nào cũng ngủ gật.

Trái tim tôi biết rất rõ nguyên nhân.

Cuối năm 2012, tôi thực hiện chuyến du lịch châu Âu một mình, đi tàu cao tốc từ Berlin[3] xuôi nam xuống Leipzig, Frankfurt, Munich[4], rồi rời Đức sang Áo đón năm mới, từ đó bay sang Pháp. Những người bạn có kinh nghiệm du lịch châu Âu đầy mình đã cho tôi lời khuyên, các thành phố phía Đông Đức khá nhàm chán buồn tẻ, đi một mình càng buồn chán hơn, tốt hơn là nên dành thời gian đến Munich hoặc Paris, Leipzig thì không nên đi.

Tôi nói không được đâu, dù không đến Berlin cũng phải đi Leipzig, nhất định phải đi.

Hai chữ “phải đi” ấy được khắc trên toàn bộ ký ức liên quan tới đàn cello. Tôi buộc mình phải tham dự những tiết học mà mình không muốn đi, dạo quanh những thành phố ít được quan tâm, như thể đây là cách duy nhất tôi có thể giữ được sự kết nối với nó.

Tôi sống trên đường Kurt-Schumacher, chẳng biết đó có phải là con đường được đặt theo tên của chính trị gia người Đức Kurt Schumacher hay không. Khách sạn rất gần nhà ga trung tâm nên có thể đi bộ, có điều đường phố ở Đức về cơ bản được lát bằng loại gạch thẻ bánh mì, tôi kéo va-li “lộc cà lộc cộc” trong mười phút, tâm trí đều xoắn lại như keo dán.

May mắn thay Leipzig khá nhỏ, các nhà thờ và bảo tàng nổi tiếng gần như nằm trên cùng một con phố chính, quãng đường từ khách sạn đến Bảo tàng Bach chỉ mất mười lăm phút đi bộ.

Bảo tàng là một tòa nhà hai tầng trang trọng với lối kiến trúc Ba-rốc thời kỳ cuối thế kỷ XVI, có một bức tường bên ngoài màu vàng nhạt đẹp đẽ, đối diện là nhà thờ Thomas – nơi Bach đã làm việc trong gần ba thập kỷ. Bước vào từ một cánh cửa nhỏ, phía bên trái là cửa sổ bán vé, giống như phòng trực của văn phòng ở trường đại học chúng tôi, còn hành lang phía bên phải dẫn thẳng vào trong bảo tàng.

Nhỏ đến bất ngờ. Bảo tàng chỉ có khoảng bốn đến năm phòng triển lãm nối liền với sảnh, không có đèn chính mà chỉ có đèn nhỏ màu cam ấm áp hoặc đèn chiếu sáng bên cạnh mỗi tủ trưng bày bằng kính. Mỗi phòng có một chủ đề, tôi dừng chân tại trong phòng trưng bày thông tin gia đình ngài ấy lâu nhất, vì tôi nhớ rõ thông tin ngài ấy có tận hai mươi người con.

Sau đó tôi đứng chôn chân trước một tủ kính trưng bày cây đàn vĩ cầm. Ở trong này không có đàn cello hiện đại.

Trong bảo tàng chỉ có tôi và một bà cụ tóc trắng bạc phơ, bà ấy đến trước tôi, cũng xem chăm chú hơn tôi.

Song có lẽ do tôi đứng quá lâu, bà ấy ghé qua và hỏi tôi có phải là nhạc sĩ hay không bằng giọng Anh rất nặng. Lần này tôi lắc đầu cực kỳ thành thật.

Tôi kể với bà rằng mình đã học cello được tám năm. Tôi học được từ “Cello” này còn sớm hơn từ “Apple”.

Bà ấy nhìn tôi bằng ánh mắt vừa kinh ngạc vừa tán thưởng, con ngươi màu xanh trong veo.

“Till now?” (Đến tận giờ ư?)

Đâu thể chứ! Lần cuối cùng tôi tập đàn là năm 13 tuổi.

Khi tôi bước ra khỏi cổng nhà hát thành phố sau tiết đàn cuối cùng, bố đã thở dài và nói đàn hay thế mà, tiếc quá.

“Không tiếc,” Tôi vui vẻ đáp: “bổ củi đốt đâu ạ.”

Lần mẹ tôi mở thẩm mỹ viện đã gặp một người phụ nữ đến xăm mày dẫn theo cả cậu con trai ngoan ngoãn lễ phép học lớp 4. Cô ấy chia sẻ, “Phong thái của con trẻ nên được nuôi dưỡng từ nhỏ, con trai tôi đang học nhạc cổ điển, đàn cello đó, chị biết không? Đừng học đàn nhị, thê lương buồn thảm, cũng đừng học đàn tranh, đàn piano hay violon, nhiều người học lắm rồi, cạnh tranh kinh lắm, học cello đi, tôi biết một giáo viên giỏi lắm.”

“Với lại bây giờ thi cấp ba rồi đại học, năng khiếu nhạc cụ đều được điểm cộng, thêm mấy chục điểm; cho dù con cái không học hành chăm chỉ thì cũng có phương án dự phòng, có thể học trường Nghệ thuật, sau này ra dạy học sinh.”

Từ việc nuôi dưỡng tình cảm đến con đường sự nghiệp tương lai, người phụ nữ này đã lên kế hoạch tương lai trong hai mươi năm tới. Năm 5 tuổi là năm tháng thích lăn lộn, nghịch bùn, cậu bé cello phong độ lịch thiệp ấy là mục tiêu khao khát mẹ tôi hướng tới.

Vài ngày sau tôi được mẹ dẫn đến gặp cô Lý. Cô ấy là một phụ nữ rất xinh đẹp, giống như phiên bản bóng bẩy của Triệu Minh Minh[5]. Hồi tôi học tiểu học, bộ phim truyền hình “Thỏa nghiện”[6] đã nổi đình nổi đám khắp cả nước, cô Lý có mái tóc xoăn dày ngang vai như Giang San, cô ấy hỏi tôi có biết hát không.

Đó là toàn bộ lời dặn dò của mẹ tôi trên đường đi. Tôi gật đầu, bắt đầu cất giọng hát  “Chim én nhỏ”[7], hát được một nửa thì quên lời, nhanh chóng nói, con hát thêm bài “Chỉ có mẹ tốt nhất trên đời” ạ. Cô Lý nói không cần, tôi hốt hoảng, năn nỉ cô cho tôi được hát.

Tôi sợ mình sẽ không được cô nhận làm học trò.

Trên thực tế, cô ấy có thể nhận ra ngay đứa trẻ có năng khiếu âm nhạc hay không, nhịp điệu tiết tấu như thế nào từ câu hát đầu tiên, thế nhưng cô ấy vẫn để tôi hát, tươi cười lăng nghe.

Cây cello xinh đẹp trong phòng cô ấy thu hút tôi. Tình cảm của con người với cái đẹp là vô cùng. Cello có nguồn gốc từ châu Âu khoảng ba đến bốn trăm năm trước, nhưng tôi nghĩ nó đẹp, đẹp không có từ nào tả siết, đẹp hơn cả thanh kiếm gỗ thắt khăn lụa tôi thường đeo trên người.  

Trên đường đi xe buýt về tôi rất vui mừng. Đó là một mùa đông, đầu những năm 90 xe buýt chỉ có một lớp sắt mỏng, cửa lỏng lẻo không được đóng lại. Chúng tôi ngồi ở hàng cuối cùng, tôi ríu rít nói chuyện liên tục, bắt chước dáng vẻ “kéo đàn” với không khí mà chẳng hề để ý tới cái nhìn rối bời của mẹ tôi.

Mang máng nhớ mẹ cười xấu hổ với người giới thiệu, nói chuyện với chính mình, học nghệ thuật đáng quý lắm.

Bố mẹ tôi cùng bàn bạc chuyện học phí, lo lắng tiền mua “đàn piano trẻ em”, ngạc nhiên khi thấy đàn phải mua riêng, thầm đoán giáo viên có thể nhận được phí trung gian giới thiệu mua hay không… Cuối cùng cắn răng tự thuyết phục mình, hiếm khi Hội Hội[8] thích, vì con, học!

Thế nhưng tôi đơn giản chỉ nghĩ nó thật đẹp thôi, muốn mẹ tôi mua cho mình một cái để chơi.

Nhiều năm về sau, vì đặc thù công việc tôi đã gặp một cô bé học cello, tất nhiên bé ấy giỏi hơn tôi rất nhiều. Nhắc đến trải nghiệm về việc học đàn, cô bé nói rất quyết tâm: “Đàn cello là cuộc sống của em.”

Điều đó thật tuyệt, tôi nghĩ vậy. Đàn cello đã suýt từng là cuộc sống của tôi.

______________


Chú thích:

[1] Georg Friedrich Händel (1685 – 1759), hay còn được với tên tiếng Anh là George Frideric Handel, là người gốc Đức, sau đó chuyển quốc tịch sang Anh, là một nhà soạn nhạc lừng danh cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp ở Luân Đôn, và nổi tiếng với những vở kịch, opera và các buổi hòa nhạc.

[2] Johann Sebastian Bach (1685 – 1750), là nhà soạn nhạc danh tiếng người Đức thời kì Ma-rốc.

[3] Thủ đô của nước Đức

[4] Các thành phố lớn của Đức

[5] Diễn viên Trung Quốc nổi tiếng với các vai diễn trong phim “Nàng Phi Yến trong cung nhà Hán”, “Bụi trúc đào không hoa”, “Đi sang Châu Âu”, “Gia đình hiện đại”… đã được trình chiếu trên truyền hình Việt.

[6] Bộ phim truyền hình của đạo diễn Triệu Bảo Cương năm 1994 với sự tham gia diễn xuất của các diễn viên Triệu Minh Minh, Giang San, Vương Chí Văn

[7] Một bài hát thiếu nhi Trung Quốc được lưu hành rộng rãi ca ngợi về cuộc sống mới.

[8] Tên thật của tác giả

 

 

Bình luận

Bình luận